Những ai có tên trong DS cổ đông sáng lập công ty cổ phần?


1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (1 votes, average: 5.00 out of 5)
Loading...

Trong quá trình làm việc, cơ quan ĐKKD nhận được nhiều câu hỏi về việc Danh sách cổ đông sáng lập của công ty cổ phần ghi tên ai? Sinh viên Liên thông Học viện tài chính cần trả lời được những câu hỏi dưới đây.

co-dong-1

Ai có trong danh sách cổ đông

Tên ai có trong danh sách cổ đông sáng lập ghi tại Giấy ĐKDN ?

Đương nhiên, đó là những cổ đông sáng lập của công ty cổ phần. Cứ ai “được” là cổ đông sáng lập thì sẽ được ghi tên vào đó.

 Vậy ai “được” là cổ đông sáng lập ?

Trường hợp 1: Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp quy định: “Cổ đông sáng lập là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần”.
Trường hợp 2: Khoản 3 điều 84 Luật Doanh nghiệp quy định: Trường hợp có CĐSL không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì số cổ phần chưa góp đủ đó của cổ đông sáng lập được xử lý theo một trong các cách sau đây:

  1. a) Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty;
  2. b) Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó;
  3. c) Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập chưa góp cổ phần theo đăng ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty.

co-dong-2

Luật Cổ đông Doanh nghiệp

Như vậy để “được” là cổ đông sáng lập, được ghi trong danh sách cổ đông sáng lập tại Giấy chứng nhận ĐKDN, quý vị phải thuộc một trong hai trường hợp trên. Nếu không thuộc một trong ba trường hợp này thì nghĩa là quý vị không phải là cổ đông sáng lập, mà đã không phải là cổ đông sáng lập thì không được ghi tên trong danh sách cổ đông sáng lập.

Ý nghĩa của danh sách cổ đông sáng lập ?

Khoản 1 điều 186 Luật DN quy định: Công ty cổ phần phải lập và lưu giữ sổ đăng ký cổ đông từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này.
Như vậy, trong nhiều trường hợp, sau ba năm, danh sách cổ đông sáng lập của công ty lúc đó có thể chỉ là sự “vinh danh” các cổ đông đã có công thành lập công ty và chỉ còn mang tính “lịch sử” mà thôi.
Khoản 5 điều 84 Luật Doanh nghiệp (nêu trên) chỉ quy định Trong thời hạn ba năm …, và Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ, vậy ngoài thời hạn này không thể đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập được vì bất cứ ai vào ra công ty sau thời hạn ba năm này đều không phải là cổ đông sáng lập của công ty (như nguyên tắc đã nêu ở phần II).